Skip to content

Author

Văn Thặng Nguyễn

1 paper indexed here

We haven’t gathered this author’s papers yet. Follow them and we’ll fetch their work.

Not the right person? Other researchers publish under this name.

Open access Aug 2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔ BỆNH HỌC SAU ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC Biện PHÁP XỬ TRÍ TIẾP THEO Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2024

Mục tiêu: Nhận xét kết quả mô bệnh học với can thiệp các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp theo dõi dọc sau khi có kết quả mô bệnh học, được thực hiện trên 296 bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung điều trị tại khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024. Các bệnh nhân có đầy đủ xét nghiệm tế bào học cổ tử cung, HPV định type và kết quả giải phẫu bệnh sau can thiệp. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS. Kết quả:  Kết quả sinh thiết ban đầu cho thấy CIN I chiếm 37,5%, CIN II chiếm 25,3% và CIN III chiếm 37,2%; không ghi nhận trường hợp ung thư xâm lấn. Phương pháp điều trị chủ yếu là LEEP (59,8%), tiếp theo là dao lạnh (20,9%) và cắt tử cung (13,2%). Đối với CIN II và CIN III, LEEP là phương pháp được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 81,3% và 89,1%. Sau điều trị lần đầu, 34,8% bệnh nhân có kết quả mô bệnh học âm tính; 64,3% vẫn còn tổn thương tiền ung thư, trong đó có 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn. Sau điều trị lần đầu, 85,8% bệnh nhân được theo dõi định kỳ, trong khi 14,2% cần can thiệp tiếp theo bằng LEEP, cắt tử cung hoặc xạ trị Kết luận: LEEP là phương pháp điều trị được lựa chọn chủ yếu trong xử trí tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Tỷ lệ tồn dư tổn thương sau điều trị lần đầu còn cao, đặc biệt ở nhóm CIN II–III, 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn, cho thấy cần tối ưu hóa kỹ thuật điều trị và theo dõi sau can thiệp nhằm giảm nguy cơ tồn dư hoặc tiến triển thành ung thư xâm lấn.

Quang Vinh Lê, H. Lê, Thuy-A Nguyen et al. · 0 citations