Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và đánh giá một số yếu tố liên quan đến di căn hạch cổ ở bệnh nhân ung thư khoang miệng được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2016-2020.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 55 bệnh nhân ung thư khoang miệng được phẫu thuật cắt u nguyên phát kết hợp nạo vét hạch cổ. Các biến số bao gồm tuổi, giới, tình trạng hút thuốc, uống rượu, vị trí u, giai đoạn TNM, độ biệt hóa mô học và tình trạng di căn hạch cổ. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng các phép kiểm thống kê thích hợp.
Kết quả: Tuổi trung bình là 58,3 (26-81 tuổi), nam giới chiếm 76,4%. Đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển (III-IV) chiếm 76,4%. Tỷ lệ di căn hạch cổ là 61,8%. Vị trí u chủ yếu ở lưỡi (60%) và sàn miệng (40%). Tất cả các trường hợp là ung thư biểu mô tế bào gai, trong đó 49,1% biệt hóa cao và 50,9% biệt hóa vừa. Giai đoạn bệnh và vị trí u có xu hướng liên quan đến tình trạng di căn hạch cổ.
Kết luận: Ung thư khoang miệng thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và có tỷ lệ di căn hạch cổ cao. Giai đoạn bệnh và vị trí u nguyên phát là những yếu tố liên quan đến di căn hạch cổ. Cần tăng cường phát hiện sớm và đánh giá toàn diện hạch cổ trong điều trị bệnh.
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện của trẻ viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện Đa khoa Ba Vì, Hà Nội.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 532 trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng và điều trị nội trú tại Khoa Nhi từ 15/7/2025 đến 15/3/2026. Thu thập thông tin về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, sử dụng hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện.
Kết quả: Thời gian nằm viện trung bình là 8,04 ± 2,17 ngày. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian nằm viện giữa các nhóm căn nguyên và mức độ bệnh khi nhập viện (p > 0,05). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy nhóm tuổi 2-12 tháng và có tiền sử viêm phổi có liên quan đến thời gian nằm viện dài hơn với β lần lượt là 0,758 và 0,731 (p < 0,001), số ngày thở oxy liên quan thuận chiều với thời gian nằm viện (β = 0,225; p = 0,027). Các yếu tố khác chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: Thời gian nằm viện ở trẻ viêm phổi cộng đồng còn tương đối dài. Trẻ nhỏ, nhu cầu thở oxy kéo dài và tiền sử viêm phổi là những yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện.
Thị Thu Hà Phùng, Thị Hồng Hạnh Lê, Thành Sơn Nguyễn et al.· Tạp chí Y học Việt Nam· 0 citations
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng ghi nhận sự cố y khoa và khảo sát các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang qua dữ liệu định lượng thứ cấp thu thập từ 374 phiếu báo cáo sự cố y khoa trong giai đoạn từ tháng 1/2022 đến tháng 2/2026.
Kết quả: Hệ thống ghi nhận tỷ lệ báo cáo tự nguyện rất cao, đạt 98,7%; nhóm nhân lực trực tiếp chăm sóc gồm điều dưỡng và kỹ thuật viên là lực lượng báo cáo chính (60,4%). Phần lớn các tình huống phát sinh vào khung giờ hành chính (94,1%) và được cập nhật kịp thời trong vòng 24 giờ đầu (94,4%). Hai kênh báo cáo trực tuyến là ứng dụng AppSheet và quét mã QR chia đều thị phần với tỷ lệ lần lượt là 50% và 49,7%. Về tính chất rủi ro, nhóm sự cố suýt xảy ra hoặc chưa gây can thiệp tổn thương chiếm đa số với 75,1%, không xuất hiện biến cố nghiêm trọng nào. Sai sót trong việc vận hành các quy trình kỹ thuật và thủ thuật chuyên môn là tác nhân phổ biến nhất (56,4%). Phân tích cho thấy phương thức tiếp cận, chức danh công việc cùng khối chuyên môn có mối liên hệ mật thiết đến tiến độ và độ hoàn thiện của thông tin báo cáo.
Kết luận: Hệ thống báo cáo sự cố y khoa số hóa bước đầu phát huy hiệu quả, cần tiếp tục cải tiến phần mềm, đào tạo và duy trì văn hóa báo cáo không trừng phạt.
H. Giang, N. Thùy, Trần Bá Kiên et al.· Tạp chí Y học Cộng đồng· 0 citations
Mục tiêu: Khảo sát các tai biến, biến chứng, đánh giá hiệu quả sạch u bước đầu và đo lường mức độ hài lòng của người bệnh sau điều trị u lành tính tuyến vú bằng kỹ thuật sinh thiết cắt u vú có hỗ trợ hút chân không (VABB).
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có theo dõi dọc trên 53 bệnh nhân với 64 khối u tuyến vú đã có kết quả giải phẫu bệnh là lành tính. Sau đó được can thiệp sinh thiết trọn u và điều trị cắt u bằng kỹ thuật VABB tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 5/2025 đến tháng 4/2026. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS, các biến chứng tại chỗ, tỷ lệ sạch u, và mức độ hài lòng bằng thang đo Likert sau 1 tháng.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 34,32 ± 11,38 tuổi. Tỷ lệ mô bệnh học sau VABB chủ yếu là u xơ tuyến vú (79,69%). Sau 1 tháng theo dõi, tỷ lệ sạch u hoàn toàn đạt 95,31% tính theo khối u và 94,34% tính theo bệnh nhân. Điểm đau VAS trung bình sau thủ thuật ở mức thấp (2,77 ± 2,09 điểm), chủ yếu là đau nhẹ (64,15%). Không ghi nhận tai biến, biến chứng nghiêm trọng; biến chứng thường gặp nhất là tụ máu tại chỗ (43,75%) nhưng chủ yếu là các ổ tụ máu nhỏ (đường kính < 3 cm) tự giới hạn và hấp thu hoàn toàn sau 1 tháng. Tổng tỷ lệ người bệnh hài lòng và rất hài lòng sau can thiệp đạt 94,34%.
Kết luận: Điều trị u lành tính tuyến vú bằng kỹ thuật VABB dưới hướng dẫn của siêu âm có độ an toàn cao, ít xâm lấn, mang lại hiệu quả làm sạch u bước đầu rất tốt và đạt mức độ hài lòng tối ưu từ phía người bệnh.
Vũ Thị Thu Lan, H. Anh, Le Duy Dung et al.· Tạp chí Y học Cộng đồng· 0 citations
Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến tỷ trọng mỡ quanh mạch vành (PACT) đo được trên ảnh chụp cắt lớp vi tính động mạch vành (CCTA).
Đối tượng và Phương pháp: Năm mươi bệnh nhân chụp CCTA tại bệnh viện Bạch Mai được đưa vào phân tích. Giá trị PCAT được đo trên các ảnh tái tạo từ nhiều thuật toán tái tọa ảnh khác nhau, bao gồm thuật toán đối chiếu ngược (Filtered Back Projection – FBP), thuật toán tái tạo lặp (Iterative Reconstruction – IR) với các mức độ lặp khác nhau và nhiều loại kernel tái tạo. Sử dụng các kiểm định thống kê để so sánh và đánh giá mỗi liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân và các thông số tái tạo lên giá trị PCAT đo được.
Kết quả: Giá trị PCAT nằm trong khoảng tỷ trọng đặc trưng của mô mỡ (–190 đến –30 HU), với trung bình –72.7 ± 22.2 HU khi dùng FBP. Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa giữa PCAT và tuổi, BMI hoặc nhịp tim (p>0.05). Ngược lại, có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị PCAT đo được giữa các thuật toán tái tạo (FBP so với IR, p=0.011) và các loại kernel (p<0.001), trong khi mức độ lặp của IR không tạo khác biệt đáng kể (p>0.05).
Kết luận: PCAT tương đối ổn định theo các đặc điểm bệnh nhân nhưng nhạy cảm với thuật toán tái tạo và mức độ kernel. Là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá trực tiếp các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng PCAT, kết quả nhấn mạnh sự cần thiết phải chuẩn hóa thông số tái tạo nhằm đảm bảo tỷ trọng mỡ quanh mạch đo được đáng tin cậy để PCAT như một biomarker mới về viêm mạch và nguy cơ tim mạch.
Tien Nguyen Cong, Minh Trang Lê, A. Trần· Vietnamese Journal of Radiol...· 0 citations
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 279 người bệnh ngoại trú ≥50 tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trungương năm 2024 nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường type 2. Thôngtin về đặc điểm nhân khẩu học, bệnh lý nền và hành vi nguy cơ được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp kếthợp khai thác hồ sơ bệnh án. Mối liên quan giữa các yếu tố này với tình trạng mắc đái tháo đường đượcphân tích bằng hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở ngườibệnh là 24,7%, sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu trong mô hình đa biến, thời gian tĩnh >4 đến <8 giờ/ngày được xác định có liên quan với đái tháo đường type 2 (aOR=2,0; 95%CI: 1,0-4,1), đặc biệt ở nhómlao động trí óc và nghỉ hưu/nội trợ (aOR=2,2; 95%CI: 1,1-4,7). Kết quả nhấn mạnh, bên cạnh các yếu tốtuổi và bệnh lý nền, cần quan tâm hơn đến việc giảm thời gian tĩnh trong dự phòng và kiểm soát đái tháođường ở người cao tuổi.
Thị Minh Thi Lại, Nguyen Ninh Bac, N. Bách et al.· Tạp chí Y học Dự phòng· 0 citations
Mục tiêu: Khảo sát sự khác biệt theo giới các yếu tố liên quan đến thói quên sống ở bệnh nhân cao tuổi điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội Tiết Bệnh viện Thống Nhất.
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi đến khám tại phòng khám Nội Tiết Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025.
Kết quả: Nghiên cứu trên 270 bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường với độ tuổi trung bình 70,3 ± 7, nam giới chiếm ưu thế 62,59%. Hai bệnh đồng mắc phổ biến nhất trong nghiên cứu là tăng huyết áp 89,3 và rối loạn lipid máu 92,6. Tỷ lệ tập thể dục ở ở nam 58,6% giới cao hơn nữ giới 43,6%. Tuy nhiên các thói quen không lành mạnh như rượu bia, hút thuốc lá ở nam cũng cao hơn nữ giới. Hồi quy logistic đa biến ghi nhận giới tính là yếu tố liên quan chặt chẽ đến thói quen tập thể dục, sử dụng rượu bia, thuốc lá. Bên cạnh đó, tuổi là yếu tố liên quan đến tập thể dục ở bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy lối sống của bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi có liên quan chặt chẽ đến giới tính và tuổi. Nam giới có mức độ hoạt động thể chất cao hơn nhưng đồng thời cũng phổ biến các hành vi không lành mạnh như sử dụng rượu bia và thuốc lá; trong khi đó, tuổi cao có xu hướng làm giảm mức độ hoạt động thể chất.
Le Hoang Phuc, Nguyễn Trần Tố Trân, Bàng Ái Viên et al.· Tạp chí Y học Cộng đồng· 0 citations