Sự bất định của thời gian di chuyển đô thị làm giảm hiệu quả điều phối và tăng chi phí logistics tại Việt Nam lên mức 16,8% GDP. Nghiên cứu này đề xuất hệ thống NovaLog AI nhằm dự báo thời gian di chuyển và hỗ trợ tối ưu hóa lộ trình. Dựa trên bộ dữ liệu vi mô gồm hơn 20.000 hành trình với 11 đặc trưng đầu vào, nghiên cứu triển khai phương pháp xác thực chéo kết hợp 30 lần mô phỏng Monte Carlo nhằm giảm độ lệch chọn mẫu. Kết quả cho thấy thuật toán CatBoost đạt R² = 0,930, RMSE = 2,738 và A20 = 88,30% trên tập kiểm tra. Phân tích SHAP xác định quãng đường, hướng gió, kinh độ đi và vĩ độ đi là 4 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến độ trễ. Nghiên cứu cung cấp công cụ định tuyến động, hỗ trợ giảm ùn tắc và tối ưu chi phí vận hành chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, phát triển đường sắt đô thị (ĐSĐT) là giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy mô hình đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) tại Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung lượng hóa tác động của hệ thống ĐSĐT mới đến giá trị bất động sản, cụ thể là phân khúc chung cư. Thông qua mô hình định giá Hedonic Pricing, nghiên cứu đo lường mức độ biến động giá trị căn hộ dựa trên khả năng tiếp cận các nhà ga Metro. Dữ liệu được thu thập từ cổng thông tin Batdongsan.com.vn giai đoạn tháng 3/2025 – 9/2025. Sau quá trình sàng lọc, mẫu nghiên cứu bao gồm 230 căn hộ thuộc 66 dự án dọc tuyến Cát Linh - Hà Đông và Nhổn - Ga Hà Nội được đưa vào phân tích. Kết quả thực chứng chỉ ra rằng, sau khi kiểm soát các biến số về đặc điểm nội tại căn hộ (diện tích, số phòng, hướng) và tiện ích khu vực (trường học, bệnh viện, thương mại), khoảng cách tới nhà ga có tác động có ý nghĩa thống kê và mang giá trị kinh tế đáng kể. Cụ thể, giá bán chung cư giảm trung bình 12.3% cho mỗi kilômét gia tăng khoảng cách đến nhà ga gần nhất. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng về cơ chế "vốn hóa" lợi ích hạ tầng giao thông vào giá trị đất đai. Đây là cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa quy hoạch không gian, xây dựng các kịch bản tài chính hạ tầng và hoàn thiện chiến lược phát triển TOD bền vững cho các đô thị lớn tại Việt Nam
Thanh Trương Thị Mỹ· The Transport and Communicat...· 0 citations
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật cắt mảng xơ và ghép bằng tĩnh mạch chủ đồng loài trong điều trị xơ cứng vật hang dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, đánh giá trước và sau phẫu thuật trên 15 bệnh nhân được phẫu thuật từ 10/2022 đến 02/2024. Tuổi trung bình là 58,07 ± 9,9. Hầu hết bệnh nhân có cong dương vật sang trái và/hoặc lên trên (86,67%). Độ cong trung bình trước mổ là 51,67 ± 6,73°, giảm còn 6,67 ± 4,08 sau mổ 6 tháng. Thời gian phẫu thuật trung bình 106,87 ± 12,2 phút; thời gian theo dõi 19,87 ± 4,36 tháng. Điểm IIEF-5 sau 6 tháng đạt 19,2 ± 1,27. Không ghi nhận trường hợp thải mảnh ghép. Kết quả bước đầu cho thấy phương pháp này có tính khả thi, giúp cải thiện rõ độ cong dương vật, với tính an toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, do cỡ mẫu còn nhỏ và vật liệu ghép còn mới, cần có thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và thiết kế phù hợp hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và độ an toàn lâu dài của phương pháp.
Quang Van Bui, Q. Nguyễn, Lư Hữu Phạm· Tap chi nghien cuu y hoc· 0 citations
Gia tăng rủi ro ngập lụt do biến đổi khí hậu và đô thị hóa đòi hỏi các giải pháp tăng cường năng lực tự ứng phó ở cấp hộ gia đình. Nghiên cứu này nhằm đề xuất và đánh giá một mô hình thuyền phao cứu hộ bán tự động tích hợp bơm điện, đèn LED cảnh báo và hệ thống định vị, hướng tới hỗ trợ ứng phó trong giai đoạn khẩn cấp ban đầu. Thiết kế nghiên cứu sử dụng khảo sát định lượng mô tả kết hợp phân tích nội dung định tính, với 90 quan sát hợp lệ từ các cá nhân từng chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả cùng Chỉ số đồng thuận (AI) và Chỉ số sẵn sàng ứng dụng (ARI). Kết quả cho thấy mức đồng thuận tương đối cao về tính cần thiết và an toàn của thiết bị; ARI tiệm cận mức “rất sẵn sàng”. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho phát triển thiết bị cứu sinh chi phí phù hợp, góp phần củng cố cách tiếp cận thích ứng thiên tai dựa vào cộng đồng.AbstractThe increasing risk of flooding driven by climate change and rapid urbanization necessitates solutions that enhance household-level adaptive capacity. This study proposes and evaluates a semi-automatic inflatable rescue boat integrated with an electric pump, LED warning lights, and a GPS positioning system to support emergency response during the initial critical phase of flooding. A descriptive quantitative survey combined with qualitative content analysis was employed, based on 90 valid responses from individuals previously affected by floods. Data were analyzed using descriptive statistics, the Agreement Index (AI), and the Adoption Readiness Index (ARI). Results indicate a relatively high level of agreement regarding the device’s necessity and safety, with the ARI approaching the “very ready” threshold. The findings provide empirical evidence for the development of cost-appropriate personal rescue devices and contribute to advancing community-based disaster adaptation strategies.Keywords: Flooding; Household rescue device; Semi-automatic inflatable boat; Resilience; Adoption Readiness Index; Community-based adaptation.
Ánh Dương Nguyễn Thị, Sơn Tùng Lê, Thúy Anh Nguyễn et al.· Tạp chí Khoa học Công nghệ H...· 0 citations
Kỷ nguyên số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra sự đứt gãy cấu trúc thông tin, đặt ra những yêu cầu mang tính đột phá đối với công tác tuyên giáo, đặc biệt tại đô thị năng động như Hải Phòng. Bài viết phân tích sự chuyển dịch tất yếu từ phương thức truyền thông chính sách một chiều sang mô hình quản trị mạng lưới dựa trên dữ liệu thực chứng và quản trị thuật toán. Đồng thời, phân tích thực trạng hạ tầng công nghệ và năng lực số của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo tại thành phố Hải Phòng để nhận diện các “khoảng trống” cốt lõi về nhận thức, đo lường và dự báo. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm thiết lập “quyền lực số”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, biến công nghệ thành động lực đưa thành phố phát triển bứt phá.
Nghiên cứu này tập trung đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất (LULC) tại đô thị Phan Rang - một đô thị ven biển đặc thù với khí hậu bán khô hạn trong giai đoạn 2020 - 2026. Bằng việc ứng dụng thuật toán lai Hybrid-RF trên nền tảng Google Earth Engine (GEE), nghiên cứu đã trích lọc chính xác 5 loại hình thảm phủ chính. Kết quả cho thấy xu hướng đô thị hóa mạnh mẽ với diện tích khu dân cư tăng 6,63% (133,35 ha), trong khi mảng xanh nông nghiệp và thực vật thưa sụt giảm đáng kể 4,97% (99,91 ha). Dựa trên các phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp quy hoạch kiến trúc thích ứng với điều kiện khắc nghiệt, thiếu nước và nhiệt độ cao nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cho đô thị trước tác động của biến đổi khí hậu.
Ths. Nguyễn Duy Linh· Journal of construction· 0 citations
Môi trường số mang lại nguồn thông tin dồi dào nhưng phân mảnh, khiến người học khó chuyển các đơn vị tri thức rời rạc thành hiểu biết có cấu trúc và chiều sâu. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm định mô hình KSO-7 (Knowledge Synthesis Optimization – 7 stages): một quy trình bảy giai đoạn tối ưu hóa việc tổng hợp tri thức trong bối cảnh có trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ cùng năm nguyên tắc tối ưu xuyên suốt. Mô hình được xây dựng bằng tổng hợp lý luận và kiểm định thực nghiệm trên 1.016 sinh viên tại hơn 13 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam bằng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) bậc hai. Kết quả cho thấy bộ thang đo có độ tin cậy và giá trị hội tụ rất cao (α = 0,893–0,946; CR = 0,894–0,947; AVE = 0,585–0,780); bảy giai đoạn hội tụ mạnh vào một năng lực tổng hợp tri thức (KSO) dự báo tri thức sâu (β = 0,794). Vai trò AI và năng lực tổng hợp là các yếu tố then chốt. Nghiên cứu cung cấp một khung quy trình đo lường được cho thiết kế hoạt động học tập số có AI hỗ trợ.
Hạnh Xuân Vũ, Dung T. Tran· Tạp chí Khoa học Trường Đại...· 0 citations